Thủ tục xác nhận cha con tại UBND khi hai người chưa đăng ký kết hôn
Hai người chưa đăng ký kết hôn nhưng có con chung thì người cha có được làm thủ tục nhận con không? Câu trả lời là có.
Việc cha và mẹ của trẻ chưa đăng ký kết hôn không làm mất quyền của người cha trong việc nhận con. Nếu người cha và người mẹ tự nguyện xác nhận quan hệ cha con và có đủ căn cứ chứng minh, thủ tục nhận cha, con có thể được thực hiện tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền.
- Chưa đăng ký kết hôn có được làm thủ tục nhận cha con không?
Có.
Pháp luật không yêu cầu cha và mẹ của trẻ phải đăng ký kết hôn thì người cha mới được nhận con.
Trường hợp hai người chỉ chung sống với nhau hoặc có con chung nhưng chưa đăng ký kết hôn, người cha vẫn có thể thực hiện thủ tục đăng ký nhận cha, con.
Đây là thủ tục hộ tịch nhằm xác lập quan hệ pháp lý giữa người cha và người con.
- Hồ sơ nhận cha con gồm những gì?
Người yêu cầu đăng ký nhận cha, con cần chuẩn bị hồ sơ theo quy định, trong đó thường có:
- Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con theo mẫu;
- Giấy tờ tùy thân của người yêu cầu;
- Giấy tờ của người được nhận là con;
- Chứng cứ chứng minh quan hệ cha con.
Chứng cứ chứng minh quan hệ cha con có thể là kết quả giám định ADN hoặc giấy tờ, tài liệu, chứng cứ khác theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp sử dụng kết quả giám định ADN, đây là căn cứ có giá trị chứng minh quan hệ huyết thống giữa người cha và người con.
- Nộp hồ sơ nhận cha con ở đâu?
Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con thuộc lĩnh vực hộ tịch và được thực hiện tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo quy định hiện hành.
Khi chuẩn bị hồ sơ, người yêu cầu cần xác định đúng cơ quan có thẩm quyền theo nơi cư trú và trường hợp cụ thể của mình để tránh phải đi lại nhiều lần.
- Có bắt buộc phải làm xét nghiệm ADN không?
Không phải mọi trường hợp đều bắt buộc phải xét nghiệm ADN.
Pháp luật cho phép sử dụng các chứng cứ chứng minh quan hệ cha con theo quy định. Tuy nhiên, nếu các bên không có giấy tờ, tài liệu khác đủ để chứng minh thì kết quả xét nghiệm ADN thường là căn cứ quan trọng để chứng minh quan hệ huyết thống.
Đặc biệt, nếu người mẹ và người cha đều thống nhất về việc nhận cha con nhưng hồ sơ không có tài liệu chứng minh phù hợp, cơ quan hộ tịch có thể yêu cầu bổ sung chứng cứ theo quy định.
- Có thể làm thủ tục nhận cha con cùng lúc với đăng ký khai sinh không?
Có thể.
Trong trường hợp trẻ chưa được đăng ký khai sinh, cha và mẹ có thể thực hiện thủ tục liên quan đếnđăng ký khai sinh và nhận cha, con theo quy định.
Việc xác lập thông tin người cha trên giấy khai sinh cần căn cứ vào kết quả giải quyết thủ tục nhận cha, con và các quy định về đăng ký hộ tịch.
Vì vậy, nếu cha mẹ chưa đăng ký kết hôn nhưng muốn để tên người cha trên giấy khai sinh của con, nên chuẩn bị hồ sơ nhận cha, con ngay từ đầu để việc đăng ký khai sinh được thực hiện đầy đủ.
- Nếu người mẹ không đồng ý cho người cha nhận con thì sao?
Trường hợp người mẹ không đồng ý hoặc phát sinh tranh chấp về quan hệ cha con, thủ tục tại cơ quan hộ tịch có thể không giải quyết theo cách thông thường.
Khi đó, người cha có thể phải thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án xác định quan hệ cha con theo quy định pháp luật.
Do đó, cần phân biệt rõ:
Hai bên cùng thống nhất: có thể thực hiện thủ tục nhận cha, con tại cơ quan hộ tịch nếu đáp ứng điều kiện.
Có tranh chấp hoặc không thống nhất: có thể phải yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Chưa đăng ký kết hôn có ảnh hưởng đến quyền của người cha đối với con không?
Việc cha mẹ không đăng ký kết hôn không đồng nghĩa với việc người cha không có quyền và nghĩa vụ đối với con.
Sau khi quan hệ cha con được xác lập hợp pháp, người cha có các quyền và nghĩa vụ của cha đối với con theo quy định của pháp luật, bao gồm nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng và các quyền, nghĩa vụ khác đối với con.
Kết luận
Chưa đăng ký kết hôn vẫn có thể làm thủ tục xác nhận cha con tại cơ quan hộ tịch.
Nếu người cha muốn được ghi nhận hợp pháp trên giấy khai sinh của con, nhưng cha mẹ chưa đăng ký kết hôn, cần thực hiện thủ tục đăng ký nhận cha, con và chuẩn bị tài liệu chứng minh quan hệ cha con theo quy định.
Căn cứ pháp lý: Luật Hộ tịch năm 2014, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và các văn bản pháp luật có liên quan.



